Mô hình trợ giúp tổ chức hoạt động dạy và học tiếng Anh

18/11/2008 12:00 sáng 0 phản hồi

Tại Việt Nam, tiếng Anh là ngoại ngữ được đưa vào học chính khóa trong các trường phổ thông cũng như Cao đẳng, Đại học. Học tiếng Anh không những giúp cho học sinh hiểu thêm về văn hóa, con người của các dân tộc khác mà còn hỗ trợ cho học sinh, sinh viên và các nhà nghiên cứu trong việc nghiên cứu tài liệu chuyên môn

Tại Việt Nam, tiếng Anh là ngoại ngữ được đưa vào học chính khóa trong các trường phổ thông cũng như Cao đẳng, Đại học. Học tiếng Anh không những giúp cho học sinh hiểu thêm về văn hóa, con người của các dân tộc khác mà còn hỗ trợ cho học sinh, sinh viên và các nhà nghiên cứu trong việc nghiên cứu tài liệu chuyên môn.
Chính vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng của giờ dạy, tạo sự tiếp thu hào hứng, sinh động cho học sinh có một tầm quan trọng đặc biệt. GDTĐ xin giới thiệu Mô hình trợ giúp tổ chức hoạt động dạy và học tiếng Anh của cô giáo Bùi Ngọc Tuyết – GV trường THCS Phan Chu Trình – Ba Đình – HN.

Một trong những công cụ hỗ trợ hữu hiệu cho phương pháp dạy – học của giáo viên (GV) và học sinh (HS) đó là những đồ dùng dạy học (ĐDDH). Tiết học càng trở nên hào hứng và tích cực khi GVsử dụng ĐDDH. Mặc dù ngoài thị trường đã xuất hiện một số ĐDDH phục vụ cho môn tiếng Anh, song hầu hết những đồ dùng đó mới chỉ đạt được những yêu cầu cơ bản như luyện nghe, luyện nói và còn mang tính đơn điệu, ít gây được sự hứng khởi cho các em HS. Vì vậy, ngoài việc soạn bài, đọc sách tham khảo, người GV còn phải nghĩ đến việc sử dụng những ĐDDH đã làm sẵn hoặc tự làm phù hợp với đặc trưng bộ môn và điều kiện cụ thể của từng vùng miền, từng trường. Cũng từ trăn trở đó, từ nhiều năm nay, tôi đã dày công suy nghĩ để đưa ra một mô hình ĐDDH vừa tạo được không khí hào hứng, tích cực cho HS trong giờ học, vừa dễ làm với những vật dụng đơn giản sẵn có trong cuộc sống mà có tính ứng dụng cao. Đó chính làMô hình trợ giúp tổ chức hoạt động dạy và học tiếng Anh.

Cấu trúc của ĐDDH

Đồ dùng này được tạo dựng từ những nguyên liệu rất đơn giản, dễ kiếm và giá thành rất thấp như bìa cứng, giấy Krôki (hoặc lịch cũ), nam châm và băng dính. Công cụ để làm đồ dùng rất đơn giản như kéo, dao, màu vẽ, bút dạ, mực, keo dán…

ĐDDH bao gồm 2 mô hình người (1 nam, 1 nữ) cùng nhiều trang phục, đầu tóc, mũ nón và những phông cảnh khác. Có thể thay đổi quần áo, mũ nón, kiểu tóc, phông nền cho 2 mô hình người này (vì có gắn nam châm lên mô hình và quần áo). 2 mô hình được dựng trên chân đế gỗ (có thể rút ra dễ dàng) để đứng vững trên bàn trong khi sử dụng (đối với những nơi chưa có bảng từ). Ngoài ra, GV có thể gắn mô hình lên bảng từ trực tiếp nhờ hệ thống nam châm.

Ý nghĩa của ĐDDH

Đồ dùng không chỉ do GV “sản xuất” mà còn có sự tham gia rất tích cực của các em HS cũng như sự hỗ trợ của đồng nghiệp trong trường (vẽ tranh, tô màu, dán,…). Đây chính là điểm khác biệt quan trọng và có ý nghĩa khi so sánh đồ dùng tự làm của mình với các ĐDDH có sẵn. Việc lôi cuốn các em cùng tham gia và quá trình tạo dựng ĐDDH (cả ý tưởng lẫn sự khéo léo, chăm chỉ) là một trong những nguyên nhânquan trọng tạo ra được tính tích cực, chủ động của HS trong giờ học cũng như tạo được một bầu không khí sôi nổi, vui vẻ trong lớp theo hướng “vừa học, vừa chơi”.

Những giờ học với đồ dùng dạy học này còn tạo điều kiện cho các em kết hợp các giác quan (nghe, nhìn) với các kỹ năng nghe, nói, trình diễn một cách thuần thục hơn, các em nhanh hiểu và nhớ bài học kỹ hơn. Hiệu quả của giờ học được nâng cao rõ rệt.

Do có thể tận dụng bìa mới hoặc cũ, lịch cũ, đế gỗ là những ghế, bàn, tủ đã qua sử dụng để làm mô hình nên chi phí cho bộ đồ dùng này có giá thành thấp, dễ làm và có thể bổ sung thường xuyên (chỉ vào khoảng 150.000 đồng). Đó là một chi phí có thể chấp nhận được đối với tất cả các trường. Nếu như các GV có thể huy động được sự hỗ trợ từ HS và phụ huynh thì việc làm mô hình này còn dễ dàng hơn nhiều.

“Mô hình trợ giúp tổ chức hoạt động dạy và học tiếng Anh” không chỉ được sử dụng cho việc dạy – học tiếng Anh ở cấp THCS mà còn rất tiện lợi cho các lớp học ở bậc Tiểu học và Mẫu giáo (như thay thế, lắp ghép, kể chuyện theo nhân vật, dạy từ, màu sắc…). Ngoài việc GV dùng để giảng dạy, nó còn có tác dụng cho HS sử dụng trong các trò chơi phục vụ giảng dạy, vui chơi giải trí trong câu lạc bộ và các giờ sinh hoạt lớp. Đồ dùng này được cho gọn vào trong 2 túi xách, giúp GV thuận tiện khi di chuyển, dễ dàng khi mang lên lớp. Những ưu điểm trên đã làm tăng tính phổ cập của “Mô hình trợ giúp tổ chức hoạt động dạy và học tiếng Anh”. Vì thế, mô hình này có thể được sử dụng ở tất cả các địa phương, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi.

Cách sử dụng:

*Set the scence (Vào bài): Dẫn dắt tình huống cho rất nhiều bài học trong chương trình, đây là bước rất quan trọng, bắt buộc phải có với từng bài học.

* Tình huống ứng dụng vào giảng dạy trong các bài (bao gồm dạy skill và language)

  1. Giới thiệu nhân vật (đặt tên các nhân vật có trong bài).
  2. Miêu tả người (hình dáng, tính cách, trạng thái, cảm xúc, tuổi tác, nghề nghiệp…).
  3. So sánh người, các trang phục (cao, thấp, béo, gầy, trang phục theo tuổi tác, dân tộc).
  4. Đếm các trang phục, đồ dùng (dạy số đếm).
  5. Hỏi và trả lời thông tin cá nhân (tên, tuổi, nghề, gia đình…).
  6. Xác định trang phục, đồ vật thuộc về ai (của búp bê nam hay nữ).
  7. Qua quần áo, đoán tính cách, dân tộc,nghề nghiệp (thông qua các trò chơi, câu đố…).
  8. Xác định các bộ phận trên cơ thể người (mắt, mũi, miệng, chân, tay…)
  9. Nói về đất nước, con người, ngôn ngữ (trang phục àgiới thiệu đất nước, ngôn ngữ…)
  10. Mẫu câu thể hiện sự đồng tình (tôi là học sinh, bạn cũng là học sinh…)
  11. Mẫu câu than phiền, khen ngợi (áo này quá đắt, cô ta thật xinh!)
  12. Cho lời khuyên về phục trang (thay đổi khuôn mặt, quần áo sẽ phải thế nào?)

Gợi ý cách phục trang (bạn nên mặc đồng phục đi học…)

  1. Giá cả quần áo (bạn mua áo này bao nhiêu?)
  2. Cửa hàng thời trang (lựa chọn , mua bán quần áo tại cửa hàng…)
  3. Chiều cao và cân nặng (mẫu câu)
  4. Nói về những người nổi tiếng (thay mặt bằng ảnh)
  5. Nói về dự định trang phục ở các nơi khác nhau (đi học, đi chơi, đi bơi, đi sinh nhật…)
  6. Phân biệt sự kiện và ý kiến. Ví dụ: She's wearing a Pink shirt -> Fact.It's a nice shirt à opinion.
  7. Viết 1 câu chuyện nhỏ qua mô hình (thay mặt nàng Bạch Tuyết, tưởng tượng và kể).
  8. Thể hiện sự bắt buộc (HS phải mặc đồng phục đến trường,…)
  9. Nói về sự khác biệt (HS Việt Nam mặc đồng phục đi học, HS Mỹ thì không…)
  10. Thể hiện sở thích (Lan thích cặp sách đỏ nhưng Nam thích cặp sách xanh…)
  11. Thể hiện ý kiến (Tôi muốn cô ta mặc áo dài ngày Tết…)
  12. Hỏi ý kiến (What's the shirt like? (Cái áo này trông như thế nào?)
  13. Thuyết phục (Tôi nghĩ là bạn nên…)
  14. Dạy mùa, thời tiết và trang phục, thể thao.
  15. Giới tính (trò chơi: lựa chọn đúng quần áo cho mô hình nam, nữ…)
  16. Dạy về sở hữu (giới thiệu đồ vật này của…, còn đây là của…)
  17. Thời động từ (mặc áo the à ngày xưa: quá khứ; váy ngắn à ngày nay: hiện tại…)
  18. Dạy mẫu câu.
  19. Thiết kế mẫu quần áo, đồ dùng
  20. Thiết kế trò chơi.

Trên đây là mô hình trợ giúp tổ chức dạy và học tiếng Anh của cô giáo Bùi Ngọc Tuyết đã đoạt giải Nhất Hội thi đồ dùng dạy học tự làm năm học 2008- 2009 do Bộ GD&ĐT tổ chức. Bạn đọc muốn hiểu rõ hơn về mô hình này xin liên hệ với tác giả: Cô Bùi Ngọc Tuyết -GV Trường THCS Phan Chu Trinh (Q. Ba Đình, Hà Nội), DĐ: 0902 282252, ĐT nhà riêng: 04-8216690.

Tin mới

Để lại phản hồi của bạn cho bài viết này


Các tin khác